Việc dạy theo phương pháp học tập của học sinh có phải là một ý tưởng mơ hồ?

Rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sự khác biệt trong phương pháp học tập của học sinh có thể quan trọng ngang với tố chất của các em, nhưng những chứng cứ từ kinh nghiệm thực tế lại rất mong manh.

phuong phap hoc tap

Ken Gibson là một học sinh đọc rất tốt ở trường tiểu học và dễ dàng tiếp nhận phần lớn những kiến thức cậu đọc được. Nhưng khi giáo viên yêu cầu cậu đứng trước lớp đọc to một báo cáo, cậu bắt đầu lúng túng. Các bạn trong lớp của cậu cũng gặp những trục trặc tương tự. Một số học sinh thuyết trình bằng miệng rất “ngon lành” nhưng các em không thể đọc nổi một đoạn bằng mắt để hiểu nội dung; các em khác lại gặp khó khăn trong việc theo dõi cô giảng bài. Giờ đây Gibson giải thích những sự việc thiếu nhất quán này là những “phương pháp học tập” mà mỗi học sinh đều không ai giống ai. Anh ta đã thành lập một công ty mang tên LearningRx với giả thuyết rằng những phương pháp tạo nên sự khác biệt trong cách thức học sinh học tập.

Ý tưởng về việc mỗi học sinh có một phương pháp học tập riêng đã trở nên nổi tiếng trong những năm gần đây. Rất nhiều giáo viên, phụ huynh và học sinh quả quyết rằng họ học tốt hơn với phương pháp nhìn hoặc nghe một bài giảng hoặc bằng cách đọc… Và một số nhà giáo dục đã tán thành những phương pháp giảng dạy lợi dụng sự khác biệt trong cách học của học sinh. Nhưng một số nhà tâm lý học đặt nghi vấn về ý tưởng cho rằng phương pháp học tập tạo nên sự khác biệt trong lớp học.

Không thiếu những ý tưởng trong lĩnh vực văn học chuyên nghiệp. David Kolb, trường đại học Case Western Reserve cho rằng tính cách phân chia người học thành những nhóm khác nhau dựa trên mức độ chủ động và quan sát mà các em học tập và xem xét xem các em hiểu tốt hơn với những khái niệm cụ thể hay trừu tượng. Một phỏng đoán khác chủ trương cho rằng những người học theo cách tuần tự hiểu thông tin tốt hơn khi khi thông tin được trình bày từng bước một, trong khi đó những học sinh với thiên hướng tổng hợp lại tiếp thu tốt hơn từ việc nhìn một bức tranh lớn. Các nhà tâm lý học đã xuất bản ít nhất 71 giả thuyết khác nhau về phương pháp học tập.

Frank Coffield, giáo sư giáo dục học của ĐH Luân Đôn, tiến hành tìm ra những phổ biến trong số rất nhiều những ý tưởng khác nhau về phương pháp học tập. Ông sử dụng một mẫu bao gồm 13 mô hình. Những phát hiện, được xuất bản năm 2004, chỉ ra rằng chỉ có 3 bài kiểm tra dành cho các phương pháp học tập đáp ứng các tiêu chuẩn về cả tính hiệu lực và tính tin cậy, có nghĩa là những bài kiểm tra vừa đo lường những gì chúng dự định đo vừa mang lại những kết quả nhất quán. Trong rất nhiều những ý tưởng cạnh tranh, Coffield và các đồng nghiệp của ông không tìm thấy dấu hiệu nào chỉ ra một mô hình bao quát của phương pháp học tập.

Năm 2002 Gibson, sau một thời gian ngắn làm việc như một chuyên viên đo mắt trẻ em, bắt đầu hoạt động công ty LearningRx, một trung tâm gia sư khác với các trung tâm gia sư truyền thống, dựa trên ý tưởng đó là mỗi người có một kỹ năng nhận thức riêng của mình. Ví dụ, những người học theo phương pháp nghe hiểu bài tốt nhất thông qua việc họ được trình bày thông qua những hình ảnh hoặc một bản trình chiếu; những người học theo phương pháp nghe học tốt thông qua việc nghe bài giảng; những người học theo phương pháp động lực thích những thứ cụ thể, chẳng hạn như xây dựng một sa bàn. Gibson nói: “Chúng ta có xu hướng tự nhiên trong việc sử dụng các kỹ năng mạnh nhất. Điều này tạo nên phương pháp học tập của chúng ta.”

Các giảng viên của LearningRx sử dụng những kỹ năng đánh giá nhận thức giống với những bài kiểm tra IQ để nhận ra những khu vực mạnh yếu trong kỹ năng nhận thức của học sinh—một số em có thể mạnh về ghi nhớ những từ viết hoặc yếu về nhẩm toán trong đầu. Sau đó họ thực hiện những bài tập “đào tạo bộ não” được thiết kế để cải thiện những kỹ năng yếu nhất của học sinh. Những bài tập như vậy có thể liên quan đến việc một giảng viên hỏi học sinh để nhanh chóng trả lời một loạt những vấn đề về toán học trong đầu học sinh ấy.

Daniel Willingham, giáo sư về tâm lý nhận thức tại trường ĐH Virginia và là người hoài nghi về phương pháp học tập, lý luận rằng Gibson và các nhà tâm lý học nhận thức khác đã mắc sai lầm khi cho rằng sức mạnh nhận thức và phương pháp học tập có vai trò ngang nhau. Willingham nói hai vấn đề này là khác nhau: Trong khi khả năng nhận thức có ảnh hưởng một cách rõ ràng đến khả năng học tập, phương pháp học tập của một cá nhân thì không thế. “Chẳng hạn, bạn có thể có hai cầu thủ chơi bóng rổ bằng hai cách khác nhau. Một người chơi rất thận trọng còn người kia chơi rất mạo hiểm và thích thực hiện những cú ném điên rồ… nhưng họ có thể có cùng khả năng.”

Như Willingham chỉ ra, ý tưởng mà khả năng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động trong lớp thì không gây ngạc nhiên một cách đặc biệt. Một câu hỏi thú vị hơn đó là liệu các phương pháp học tập, đối trọng với khả năng, có tạo nên sự khác biệt trong lớp học. Các nhà giáo dục liệu có trở nên hiệu quả hơn nếu họ nhận ra được phương pháp đặc thù của từng cá nhân học sinh và truyền đạt bài giảng đến các em?

Willingham nói giả thuyết này có thể kiểm chứng được. “Sự dự đoán này rất dễ thấy: Nếu bạn xuôi theo phương pháp của một người thay vì đi ngược lại với phương pháp mà người đó thích, điều này sẽ tạo nên sự khác biệt trong kết quả học tập”.

Harold Pashler của trường ĐH California, San Diego, và các cộng sự của ông đã tìm kiếm môn văn chương nghiên cứu để tìm ra những chứng cứ thực tế của loại này. Họ không tìm thấy bất kì điều gì. Một nghiên cứu họ đã tái xét trong đó so sánh kết quả của những người tham gia trên bảng câu hỏi miệng – trực quan, một khảo sát gồm 15 thứ về những câu hỏi đúng hoặc sai nhằm đánh giá xem một người thích nghe hay nhìn thông tin, với các kết quả trên những bài kiểm tra trí nhớ sau khi trình bày các từ thông qua hoặc tranh hoặc đọc lời bằng miệng. Trung bình, những người tham gia ghi điểm tốt hơn đối với bài kiểm tra ghi nhớ thông tin tự do khi họ được cho xem các hình ảnh, bất kể họ theo thiên hướng gì.

Một số nghiên cứu nhằm chứng minh sự hiệu quả của việc dạy theo phương pháp học tập, mặc dù chúng có những mẫu điều tra nhỏ, các số liệu báo cáo chọn lọc thiếu sót về phương pháp lập luận. Khi tiến hành đánh giá, người ta không tìm thấy mối quan hệ nào về mặt lập luận giữa phương pháp học tập và sự hiệu quả. Willingham và Pashler tin rằng các phương pháp học tập là một sự hoang đường chỉ tồn tại thông qua những nghiên cứu tùy tiện và những méo mó về thông tin.

Bất chấp sự thiếu chứng cứ thực tế của phương pháp học tập, Gibson tiếp tục nghĩ về khả năng và thiên hướng có vai trò ngang nhau. Các giảng viên tại LearningRx yêu cầu khách hàng của mình mô tả những điểm yếu, sau đó đo lường những khả năng nhận thức của họ bằng cách sử dụng bài kiểm tra Woodcock-Johnson. Anh ta nói: “Chỉ cần mọi người cho chúng tôi biết những gì họ cảm thấy dễ dàng và khó khăn, chúng tôi có thể biết những khiếm khuyết đang nằm ở đâu,”. “85 đến 90% thời gian những triệu chứng và kết quả kiểm tra là chính xác.”

Khi các giáo viên phân vân về cách thức trình bày một bài học cho những học sinh với nhiều trình độ khác nhau, họ có thể không tìm thấy câu trả lời trong cách tiếp cận theo phương pháp học tập đã được thiết lập. Thay vào đó, Willingham gợi ý cách thức làm cho nó đơn giản. Ông nói: “Đó là tài liệu, không phải những khác biệt giữa những học sinh, đó phải là yếu tố quyết định của cách thức giáo viên sẽ trình bày một bài học,”. Ví dụ, nếu mục tiêu là dạy học sinh địa lý Nam Mỹ, cách thức hiệu quả nhất là trải một tấm bản đồ lên bảng cho học sinh nhìn thay vì sử dụng lời nói để miêu tả hình dạng và vị trí tương đối của mỗi quốc gia. “Nếu có một cách thức tuyệt vời để nắm bắt một khái niệm cho hầu hết tất cả mọi người, thì bạn đã thành công rồi đấy.”

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *